![]()

MƯA
QUA
THI-CA VIỆT-NAM
DƯƠNG
VIẾT-ĐIỀN
“Đường về
đêm nay vắng tanh
Dạt-dào hạt mưa rớt nhanh
Lạnh-lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh
Lầy lội
qua muôn lối quanh
Gập-ghềnh
đường đi tối-tăm
Nghe trẻ thơ thức giấc bùi-ngùi.”
…
Trên đây là những lời ca thật ủ-dột
âm-u, những màu sắc buồn-bã của đêm mưa
ướt-át lạnh-lùng trong bản nhạc “Kiếp nghèo”
của nhạc-sĩ Lam-Phương. Vâng, nhạc-sĩ
Lam-Phương đã đem “ Mưa” vào âm-nhạc
Việt-nam.
Những giọt mưa thánh-thót rơi trong đêm khuya
thanh-vắng đã được
nhạc-sĩ tạo thành một giai-điệu tuyệt-vời nghe thật lâm-ly
não-nùng.
Còn các nhà thơ thì sao? Họ
có đem những
giọt mưa ấy vào thi-ca hay không? Nói đến mưa trong dòng thơ
Việt, ta thấy nhiều nhà thơ đã sáng tác rất
nhiều tác-phẩm bất
hủ khi nói về mưa bay trong đời.
Nói đến trời mưa là nói đến cảnh vật
u-buồn, ủ-dột.
Đường sá lầy lội ướt-át triền-miên. Mùa mưa là mùa của buồn-bã âm-u, mùa
của hoang-vắng lạnh-lùng. Nhiều lúc nhìn mưa
rơi ta thấy lòng buồn
vời-vợi. Buồn vì cảnh vật sao mà
tiêu-điều xơ-xác, buồn vì đêm khuya nghe những giọt mưa
thánh-thót như nức-nở bên thềm.
Ta hãy nghe bà Huyện Thanh-Quan tả cảnh mưa
rơi chiều thu qua những dòng thơ thật xơ-xác
tiêu-điều:
“Thánh-thót tàu tiêu
mấy hạt mưa
Khen ai khéo vẽ
cảnh tiêu-sơ
Xanh om
cổ-thụ tròn xoe tán
Trắng xoá tràng
giang phẳng-lặng tờ.”
Thật vậy,cứ
mỗi lần mưa rơi bao giờ ta cũng
thấy cảnh vật thật tiêu-sơ hiu-quạnh. Cây
cối như rũ-rượi bơ-phờ đứng
dầm trong mưa qua những tháng ngày rét mướt. Nhất
là cảnh bến đó ngày mưa ở miền quê hoang
vắng mà thi-sĩ Anh-Thơ đã dệt nên những dòng
thơ tứ-tuyệt sau đây, làm cho ta thấy cảnh
vật sao mà ủ-rũ tiêu-điều :
“ Tre rũ-rượi ven bờ
chen ướt-át
Chuối bơ-phờ
đầu bến đứng dầm mưa
Và dầm
mưa dòng sông trôi rào-rạt
Mặc con
thuyền cắm lại đậu trơ-trơ.”
(Bức Tranh Quê)
Cũng thế nhưng
thi-sĩ Trần Tế Xương lại tả cảnh
trời mưa giữa đêm xuân, nhưng không phải
với cây cối ủ-rũ bơ-phờ mà “Hết
đối đèn khuya lại ngắm hoa.” :
“Thánh-thót mưa xuân ướt
mái nhà
Gió đông
gọi khách nhớ người xa
Bể trần
lai-láng, chiều lên
xuống
Hết
đối đèn khuya lại ngắm hoa.”
Tuy nhiên cho dù “Hết đối đèn
khuya lại ngắm hoa.”, nhưng một khi trời đã
mưa thì không sao tránh khỏi sự buồn-bã
được.
Từ cổ chí kim, từ
đông sang tây, chưa bao giờ ta nghe nói đến
cảnh trời mưa nào mà vui cả.
Đã nói đến mưa là
nói đến buồn thảm, tiêu-điều. Nhất là đối với
những người đang yêu mà lại xa nhau, thì trời
mưa là sự ngăn-cách, chia-ly. Chính trời mưa đã
làm cho những người đang yêu nhau cảm thấy
buồn vời-vợi vì
phải xa cách nhau, để rồi nhìn mây trời bay
về nơi vô-định mà lòng nhung nhớ triền-miên.
Nhất là lúc đêm khuya thanh-vắng nghe tiếng mưa
rơi thánh-thót ngoài hiên, rồi nằm thao-thức nhớ
người yêu. Lắm lúc chàng ngồi đếm từng
ngày để xem trời mưa kéo dài bao lâu rồi mà không
chịu tạnh để chàng gặp lại người
yêu cho bỏ những đêm dài trằn trọc vì
nhung-nhớ. Nhà thơ Nguyễn-Bính đã diễn-tả
những ý-nghĩa trên qua những dòng thơ lục bát sau
đây thật nhẹ-nhàng:
“ Tầm
tầm giời cứ
đổ mưa
Hết
hôm nay nữa là vừa bốn hôm
Cô-đơn buồn lại thêm buồn
Tạnh
mưa bươm-bướm biết còn sang chơi.”
Nhưng đau-đớn thay! Biết bao đêm
không ngủ vì tưởng
nhớ người yêu rồi “ Mùa thương tay
đợi mắt chờ.” đến héo mòn cả con tim.
Nhưng khi trời quang mây
tạnh, chàng vẫn không
thấy nàng sang chơi nữa, nên chàng đã nức nở
lệ sầu giữa dòng đời hiu-quạnh vì vẫn
còn đơn thương độc mã, một bóng một hình :
“ Hôm nay
mưa đã tạnh rồi
Tơ không
hong nữa, bướm lười không sang
Bên hiên
vẫn vắng bóng nàng
Rưng
rưng…tôi gục xuống bàn rưng rưng
Nhớ con
bướm trắng lạ lùng
Nhớ
tơ vàng nữa, nhưng không
nhớ nàng.”
(Nguyễn-Bính)
Vì không gặp được
nàng nên chàng lại nhớ, nhớ mãi nhớ hòai, nhớ
thương rồi thương nhớ. Trời càng mưa chàng càng nhớ nhiều.
Nhất là lúc trời mưa lại bay về trên xứ
Huế, khiến cho cảnh vật sao mà buồn da-diết
:
“ Trời
mưa xứ Huế sao buồn quá
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Nhớ ai,
ai nhớ mà thương nhớ
…………………………….. .”
(Nguyễn-Bính)
Không phải chỉ có nhà
thơ Nguyễn-Bính mới nhớ người yêu khi
trời mưa mà bất cứ ai khi có người yêu cũng
đều nhớ nhung
chất-ngất, nhất là khi
người yêu đó
đã là đấng phu-quân của mình rồi. Ta hãy nghe nhà
thơ Vi-Anh bày tỏ nỗi niềm nhung nhớ của
mình đối với chồng qua bài “ Mưa tím hoàng-hôn”
với những dòng thơ
ngũ-ngôn thật dễ thương và nhẹ nhàng :
“ Mưa chiều
bên sông vắng
Nhớ anh
buồn bâng-khuâng
Ngón tay em
thầm lặng
Đưa tình vào mênh-mông
Sợi tóc
dài thương nhớ
Bềnh-bồng trôi trong
mưa
Cơn mưa chiều vội-vã
Ướt
đẫm chiều hoang-liêu
Mưa hoàng-hôn tím ngắt
Tím tà áo mây
bay
Tím khung
trời ước hẹn
Tím lòng em
nhớ anh.”
(Vi-Anh)
Tuy-nhiên, có nhiều
người bất chấp cả trời mưa vẫn
cố-gắng tìm cách gặp người yêu vì đã lỡ
hẹn-hò từ trước. Chàng đi đến quán nhỏ
bên đường nơi hè xưa phố cũ, quyết
chí ngồi đợi chờ rồi quay mặt ra
công-trường nhìn mưa
rơi lá đổ mà lòng
buồn vời-vợi, vì vẫn chưa thấy bóng dáng người yêu xuất- hiện
ở công- trường :
“ Mùa thu đêm
mưa
Phố cũ
hè xưa
Công-trường lá đổ
Ngóng em kiên-khổ phút
giờ.”
(Cung Trầm Tưởng)
Đã thế, nhiều
người lại thích đi trong mưa để tiễn người yêu về nhà
sau giờ tan học.
Hình ảnh chàng dắt tay
người yêu đang còn tuổi học-trò đi
dưới mưa khi lá vàng rơi phủ ngập cả
đại lộ hôn-hoàng là hình ảnh đẹp
tuyệt-vời của những
mối tình lãng-mạn nhất trong thi-ca Việt-nam. Sau khi tiễn đưa nàng
về nhà, chàng bắt đầu nhớ-nhung buồn-bã
để rồi phố-xá cũng buồn theo dưới
cơn mưa tầm-tả ở phố đông :
“ Đã một
lần hình như xa xưa
Ta đưa
em về dưới phố trời mưa
Cơn mưa
tầm cuối giờ tan học
Rồi nhớ thương nhau
mấy chẳng vừa
Đã một
lần trời mưa phố đông
Ta nghe như ướt cả trong lòng
Đưa em con phố buồn như
nước
Một kẻ
đi rồi ta nhớ trông.”
(Song-Nhị)
Ngược lại, có nhiều
người hẹn mà lại không đến, để
người yêu mỏi mắt chờ trông. Chiều thứ
bảy trời mưa bay bay, nàng ngồi một mình trong
phòng vắng, tay đợi mắt chờ mà lòng buồn
vời-vợi. Nàng ước mơ được chàng
đến thăm rồi trao cho nàng những nụ hôn say đắm.
Nhưng chàng vẫn không đến, chàng đã lỗi hẹn.
Đúng là “hẹn mà không đến, sao đày-đoạ nhau. Ôi,
chiều thứ bảy âu-sầu.!” :
“ Chiều nay
thứ bảy trời mưa
Sao anh không đến hẹn-hò
với em
Trời mưa
ướt cả môi mềm
Sao anh không
đến hôn em nghẹn-ngào ?
Cho em tìm ánh
trăng sao
Đọng
trong đáy mắt anh ngào-ngạt hương “
“Trời mưa
một bóng em gầy
Hẹn mà không
đến, sao
đày-đọa nhau ?
Ôi! Chiều thứ bảy
âu-sầu !!!”
(Hoàng ngọc Thúy)
Nhưng nếu chàng không có
người yêu thì mỗi lúc mưa bay về trong
đời, chàng cũng
cảm thấy lòng buồn man-mác và “ nghe trời
nằng nặng, ta nghe buồn-buồn.”, để rồi
nằm nghe mưa “rơi rơi…dìu-dịu rơi rơi…,
trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu-vơ .”
Nhà thơ Huy-Cận với bài “Buồn đêm
mưa.” đã cho ta thấy rõ điều đó qua mấy
dòng thơ lục bát đầy tiếng mưa rơi :
“Đêm
mưa làm nhớ không-gian
Lòng run thêm
lạnh nỗi hàn bao-la
Tai nương
nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng-nặng, nghe ta
buồn- buồn
Nghe đi rời-rạc trong
hồn
Những chân xa vắng
dặm mòn lẻ loi…
Rơi rơi…dìu-dịu
rơi rơi…
Trăm muôn giọt nhẹ
nối lời vu-vơ …
Tương-tư
hướng lạc, phương mờ…
Trở nghiêng gối mộng, hửng-hờ nằm
nghe
Gió về lòng rộng không che
Hơi may hiu-hắt bốn
bề tâm-tư …”
Và điều chắc-chắn
khi thấy mưa rơi, ai ai cũng cảm thấy lòng
buồn da-diết, nhất là lúc “mưa mịt mờ
ngọn cây, mưa xô rừng núi ngã”. Ta hãy nghe nhà thơ
Huệ-Thu nói về nỗi buồn xa vắng khi thấy
trời mưa mãi mưa hoài :
“Ô hay
trời lạ quá
Mưa hoài
mấy bữa nay
Mưa buồn không thể
tả
Mưa chảy dài ngọn lá
Mưa mịt mờ ngọn
cây
Mưa xô rừng núi ngã
Mưa gió đùa tóc bay.”
(Huệ-Thu)
Nói chung, bất cứ
người nào khi thấy cảnh mưa rơi, dù là gió mưa bão-bùng hay mưa bụi
bay bay giữa phố-phường cũng cảm thấy
buồn man-mác .
Có thể buồn vì quang-cảnh
tiêu-điều xơ-xác,ướt-át lạnh-lùng. Buồn
vì nhung-nhớ người yêu đôi bờ ngăn cách.
Buồn vì đang giang hồ phiêu-bạt ở đất
khách quê người nên nhớ quê nhà ,khi thấy cảnh
trời chiều mưa rơi tầm-tả vì tình hoài-hương
luôn luôn tiềm-tàng mãi trong lòng người lữ-khách.
Nhiều nhà thơ khi thấy
mưa rơi rả-rích lòng mình bỗng nhiên buồn
diệu vợi. Mặc dầu ngoài trời mưa
rơi như thác đổ, nhung trong lòng vẫn khô cằn không có
một giọt nước như bị hạn hán
nhiều năm, bởi tâm-hồn buồn-bã triền miên
vì những nỗi uẩn-khúc
u-sầu cứ hiện về trong tâm-khảm. Những
nỗi uẩn-khúc u-sầu đó là tình hoài-hương,
là những ước mơ
được trở về quê
mẹ. Nhưng vì nghịch-cảnh của cuộc
đời nên những mơ-ước đó vẫn
chưa thực-hiện được, đành phải
tạm-thời tha phương cầu-thực thêm một
thời -gian nữa. Và ngày về cũng chỉ “độ
đào bông.” Qua baì mưa rơi chốn cũ sau đây, nhà
thơ Duy-Lam đã cho ta thấy những u-uẩn đó
vẫn tiềm-tàng mãi trong lòng
để rồi “ngồi buồn đếm cả
mênh-mông của đời .” :
“ Trời mưa rả-rích trời mưa
Lòng ta nức-nở gió đùa hắt-hiu
Mưa giăng mắc đón buổi chiều
Lòng ta hạn-hán bao nhiêu năm ròng
Xếp chồng u-uẩn trong lòng
Ngồi buồn đếm cả mênh-mông của
đời
Tha-phương cầu-thực mọi nơi
Trở về chốn cũ tơi-bời gió mưa .”
( Duy-Lam)
Nhắc đến
quê-hương tất cả mọi người ở
đất khách ai cũng cảm thấy lòng buồn da-diết.
Buồn vì xa quê nhà
biền-biệt không biết được ngày về
thăm quê cũ, buồn vì
nhớ lũy tre xanh bao
bọc quanh làng, buồn vì nhớ những cánh đồng
luá bát-nghát như những sóng lụa trôi trên lúa ở
khắp miền thôn-dã.
Đã thế nhìn mưa
rơi, lòng người thường quặn-thắt vì
nhung nhớ quê nhà nghìn trùng xa cách. Ta hãy nghe nhà thơ
Cung-Diễm tả cái buồn khi mưa bay về trên
phố vắng chiều
đông :
“ Trời buồn trời đổ mưa bay
Ta buồn không rượu để say thêm buồn
Giăng-giăng từng sợi mưa tuôn
Lê-thê như kéo nỗi buồn vô-biên
Mưa gieo từng hạt ưu-phiền
Dòng tâm-tư chảy vào
niềm thương đau
Giọt mưa không giọt ưu-sầu
Buồn chi trời cũng rơi châu sụt-sùi
Lạc-loài một bóng chim côi
Bâng-khuâng đôi cánh giữa trời tha-hương
Bên kia bờ Thái-Bình-Dương
Tre xanh lúa ngát quê
hương một trời
Mưa buồn chi lắm mưa ơi!
Trời mưa – không giọt mưa rơi trong lòng.”
(Cung-Diễm)
Xem thế, ta thấy rằng
nỗi buồn man-mác của các nhà thơ thường là
bất tận. Vì
những nỗi buồn này vô bờ bến kéo dài
triền-miên, khi chúng bắt nguồn từ cái nhìn về
phía mưa rơi rả-rích.
Nhiều người, cuộc sống đã
gặp những đau buồn chua xót vì phải sống bên
cạnh người chồng chưa bao giờ tỏ tình
yêu thương vì những ái-ân lạt-lẽo, lại
thấy cảnh mưa rơi bay về giữa cuộc
đời ảm-đạm, cô-tịch nên cảm thấy
tâm-hồn quá đau-khổ như con chim đang bị
nhốt trong lồng.
Ta hãy nghe nhà thơ T.T.KH
nức-nở sầu-thương như con chim đang
quằn-quại :
“ Ngoài trời mưa gió xôn-xao
Ai đem khóa
chết chim vào lồng nghiêm
Ai đem
lễ giáo giam em
Sống
hờ trọn kiếp trong duyên trái đời.”
Tóm
lại qua thi-ca Việt-nam, ta thấy hầu hết các nhà
thơ đã ngụp lặn trong mưa gió bão-bùng để
sáng-tác nên những dòng thơ phủ ngập cả mưa
rơi, gió thổi, để lại cho đời
những tác-phẩm về mưa thật bất-hủ, tuyệt-vời
.
DƯƠNG VIẾT- ĐIỀN

MÙA
THU QUA THI-CA VIỆT-NAM
![]()
Ai đã
từng đọc bài thơ nổi tiếng
“Chansons D’Automne” của thi-sĩ lừng danh Pháp-quốc Paul
Verlaine đều cảm thấy lòng mình bồi-hồi và
xúc-động . Không xúc-động sao đựơc khi
nhà thơ đa-tình này đã rung cảm hồn mình thành
những dòng thơ bất-hủ sau đây để
nức-nở về tình thu bên bờ sông
“Les sanglots longs
Des violons
De l’automne
Blessent mon coeur
D’une langueur monotone
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l’heures
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m’en vais
Au vent mauvais
Qui m’emporte
Deçà delà
Pareil à la
Feuille morte”
“Tiếng đàn ai đó lê-thê
Vĩ- cầm réo-rắt ê-chề lòng đau
Bơ-vơ chuông đổ đồng-hồ
Lòng như héo-hắt thu tàn năm xưa
Bao kỷ-niệm, theo gió đưa
Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót-xa
Bao năm lữ thứ xa nhà
Giang-hồ phiêu-bạt lá vàng tả-tơi..”
(Lãng-Du )
Thật vậy, mùa thu là mùa
của tình yêu, mùa của lá vàng rơi rụng. Mùa thu là mùa
của những cặp tình nhân dìu nhau đi dưới
nắng thu để thưởng thức bầu không khí
mát mẻ trong lành, rồi
trao cho nhau những nụ hôn nồng cháy để rồi
cùng nhau nhìn lá vàng rơi, rơi mãi tận cuối chân
trời.
Mùa thu là mùa các thi-nhân đi tìm
những vần thơ để sáng-tác thành những
tuyệt-phẩm bất-hủ nghìn năm.
Ai đã từng đi qua phố
vắng dưới ánh nắng chiều thu khi lá vàng bay bay
khắp trời rồi lác-đác rơi qua mái đầu và
rớt xuống đất, mới cảm thấy
được cái đẹp tuyệt vời của mùa
thu, mới rung cảm theo nhịp
của lá vàng đang rơi, rung cảm theo những tia nắng thu dịu
hiền vươn mãi đến tận chân trời xa
thăm-thẳm. Nói đến mùa thu là nói đến mùa
của lá vàng bay bay, mùa của lá vàng rơi rơi, mùa
của lá vàng khô rụng khắp mọi nẽo
đường. “ Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám
cưới về”. Ta hãy nghe các thi-nhân Việt-nam nói về lá vàng
rơi mỗi độ thu về qua những dòng thơ
trữ tình sau đây.
Hình ảnh nổi
bật nhất về lá rụng giữa mùa thu là hình
ảnh trong hai câu thơ sau đây của thi-sĩ
Tản-Đà :
“ Trận gió thu-phong rụng lá vàng
Lá bay hàng xóm lá bay sang”
Nhưng hình
ảnh trữ tình và lãng-mạn nhất là hình ảnh con nai
vàng ngơ-ngác giữa rừng thu qua bài “Tiếng Thu”
của Lưu Trọng Lư với những câu thơ
năm chữ nghe thật êm-đềm như khúc nhạc
tình thu trong rừng vắng :
“ Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào-xạc
Con nai vàng ngơ-ngác
Đạp trên lá vàng khô”
Không phải
chỉ có Tản-Đà hay Lưu Trọng Lư mới
nói đến lá vàng khi mùa thu tới; hầu hết các
thi-nhân Việt-nam đều ca ngợi cái đẹp
của mùa thu bằng cách diễn tả hình ảnh của
lá vàng rơi giữa trời thu. Sau đây là những dòng thơ diễn tả
về lá vàng mùa thu của một số thi- nhân Việt-nam
:
“ Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh-lùng” (Huy-Cận)
“ Rặng liễu đìu-hiu
đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới mùa thu tới
Với áo
mơ phai dệt lá vàng “ (Xuân-Diệu )
“ Ao thu lạnh-lẽo nước
trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo-teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”
(Nguyễn Khuyến)
“Ai đâu trở lại mùa thu
trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng” (Chế lan
Viên)
“Chẳng được như hoa vướng gót
nàng
Cõi lòng man-mác giá như sương!
Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ
thương” (Thái
Can)
“Gió vàng hiu-hắt cảnh
tiêu-sơ
Lẻ-tẻ bên trời bóng nhạn thưa
Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm
Rừng phong lá rụng tiếng như mưa” (Ngô Chi Lan)
“Đêm thu khắc lậu canh tàn
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm sương “
(Nguyên-Du)
Ngoài lá vàng rơi
là biểu-tượng của mùa thu, ta còn phải
đề cập đến ánh trăng thu huyền-ảo.
Nói đến mùa thu mà không đề-cập đến ánh
trăng thu mờ-ảo sau áng mây trời giữa đêm
khuya thanh-vắng là một sự thiếu sót lớn lao
đối với mùa thu .
Không phải
đêm thu nào ánh trăng cũng vằng-vặc giữa
trời trong khi lá vàng rơi nhè nhẹ giữa đêm khuya
cô-tịch mà trái lại, có những đêm thu trăng
buồn ảo-nảo gió heo may thổi về làm cho lòng
người cảm thấy u-buồn man-mác trước cái
lạnh không làm tê-buốt con tim như mùa đông, nhưng
lắm lúc làm cho hồn ta bâng-khuâng giá rét, làm cho hồn ta
nhung-nhớ lạnh-lùng.
Nếu thi-sĩ
Thượng Quan-Nghi đời Đường bên
Trung-Quốc đã diễn-tả cái đẹp của ánh
trăng thu qua hai câu thơ:
“Thước phi sơn nguyệt thự
Thuyền táo đã phong thu”
“Sườn non trăng sáng
chim bay
Đồng thu gió lộng, ve say
nhạc sầu” (Chi-Điền dịch)
Thì tại
Việt-Nam, rất nhiều nhà thơ đã tốn không
biết bao nhiêu mực và giấy để diễn-tả
chị Hằng giữa đêm thu huyền-diệu. Thật
vậy nếu bài “Tiếng Thu” của
Lưu trọng Lư không đề cập đến ánh
trăng mờ thì toàn bài thơ
mất đi rất nhiều ý-nghĩa về mùa thu :
“Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ
thổn-thức”
Riêng nhà thơ Xuân-Diệu đã
nhân-cách hóa ánh trăng thu khiến những dòng thơ
trở thành bất tử:
“ Thỉnh-thoảng nàng trăng
tự ngẩn-ngơ
Non xa khởi sự nhạt
sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn
trong gió
Đã vắng người sang
những chuyến đò”
Tuy-nhiên nói
đến trăng nhất là ánh trăng thu mà không nói
đến thi-sĩ Hàn Mặc Tử là một sự
thiếu sót vô cùng trọng đại.
Ta hãy nghe Hàn Mặc
Tử nói về trăng thu qua những câu thơ bảy
chữ với lối nhân-cách hóa làm cho ta có cảm
tưởng như người đẹp Hằng-Nga
đang rón-rén dời gót ngọc vào nhà ai giữa đêm thu
trăng sáng :
“Bóng nguyệt leo song sờ-sẫm
gối
Gió thu lọt cửa cọ mài
chăn”
hay là :
“ Ô kìa bóng nguyệt trần
truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới
đáy khe”
Ngoài Lưu Trọng
Lư, Hàn Mặc Tử, Xuân-Diệu ra , ta cũng thấy
rất nhiều nhà thơ nói về ánh trăng thu. Sau
đây là một số bài thơ của một vài thi-nhân
đã ca-tụng ánh trăng thu qua những dòng thơ
đủ các thể loại :
“Lòng anh giếng ngọt trong veo
Trăng thu trong vắt, biển
chiều trong xanh
Lòng em như bụi kinh-thành
Đa-đoan vó ngựa chung-tình bánh
xe.” (Nguyễn-Bính)
“Nước biếc trông như
tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng
trăng vào” (Nguyễn -Khuyến)
“Đêm thu buồn lắm chị
Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nữa
rồi” (Tản-Đà)
“Mặt trăng tỏ
thường soi bên gối,
Bừng mắt trông sương
gội cành ngô
Lạnh-lùng thay, bấy
chiều thu,
Gió may hiu-hắt trên
đầu tường vôi”
Đặng Trần
Côn (Đoàn thị Điểm dịch)
“Vi lô san-sát heo may
Một trời thu
để riêng ai một người
Dặm khuya ngất
tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn
những lời non sông
Rừng thu từng biếc
chen hồng
Nghe chim như nhắc
tấm lòng thần-hôn !”
(Nguyễn-Du )
“Đêm thu gió lọt sông
đào
Nửa vành trăng
khuyết, ba sao giữa trời “(
Nguyễn- Du)
“Hoa xuân nọ, còn
phong nộn nhị,
Nguyệt thu kia,chưa hé
hàn-quang” ( Ôn như Hầu )
Nếu mùa thu có
lá vàng rơi rụng, có trăng thu huyền ảo thì
cũng có nắng thu nhẹ lướt trên đồi.
Nắng mùa thu không gay-gắt rực lửa như mùa
hạ trái lại rất mát dịu trong lành, nhất là
những lúc trời xanh mây trắng nắng hồng. Đi
dưới nắng thu người ta thấy
tâm-hồn rất thoải mái lâng-lâng, nhất là những
lúc trời chiều nhạt nắng có lá vàng bay bay rồi
rụng khắp phố -phường. Nhiều
cặp tình nhân thích đi dưới nắng thu để
thưởng thức cái vẻ đẹp của mùa thu,
nhặt những lá vàng rơi rồi nhìn những hàng cây
khẳng-khiu chỉ còn những cành trụi lá dọc hai bên
đại-lộ lúc chiều tà.
Ai cũng
biết rằng các thi- nhân khi nói về mùa thu thường
không quên đề-cập đến nắng thu. Nhà thơ
Chế Lan Viên đã làm cho ta ngạc-nhiên khi viết mấy câu
thơ liên-quan đến nắng thu như sau:
“Chao ôi! thu đã tới
rồi sao ?
Thu trước vừa qua
mới độ nào
Mới độ nào đây
hoa rạn vỡ
Nắng hồng choàng
ấp dãy bàng cao.”
Nhưng
ngạc-nhiên hơn nữa là hai câu thơ đầy
nhạc tính của nhà thơ Bích-Khê sau đây làm cho ta
cảm thấy thích thú khi đọc lên vì nghe như
một giai-điệu tuyệt vời :