
![]()

![]()
![]()
TIỂU SỬ TÁC GIẢ
LÊ MỘNG
NGUYÊN : Nhạc sĩ, Viện sĩ Hàn Lâm Viện Khoa
Học Hải Ngoại Pháp, Tiến Sĩ Quốc Gia
Khoa Học Chính Trị, nguyên Luật sư Tòa
Thượng Thẩm Paris...
Sinh tại Phú Xuân (Huế),
tỉnh Thừa Thiên, nước Việt Nam (cha tên
là Lê Viết Mưu, mẹ là Hồ Thị Ngô,
cả hai đều tạ thế), trong một gia
đình nho giáo, Phật giáo đi đôi
với phụng thờ tổ tiên, có 7 con (5 trai
2 gái). Trưởng nam là Lê Mộng Tùng
mất năm 1981, trưởng nữ Lê Thị
Tố Huệ năm 1966, còn chồng là ông Lê
Văn Hy hiện trú ngụ tại Montréal,
Québec (Canada). Con út của gia đình là Lê
Mộng Quán mất tại Lille năm 1968. Lê Mộng
Nguyên hiện giờ chỉ còn hai người
anh ở Sài Gòn : Lê Mộng Đào và Lê
Mộng Hoàng (đạo diễn phim) và một
người chị : bà Lê Thị Tố Vân
ở Huế (chồng là Lê Đình Sum
vừa tạ thế năm 2000).
Lê Mộng Nguyên qua Pháp du
học từ ngày 05/10/1950, sau khi đỗ
bằng Tú Tài Sinh Ngữ Triết Lý
niên học 1949-1950. Sau khi trúng tuyển Cử nhân
Luật khoa Đại học Paris năm 1954 và làm
tham vụ ngoại giao tại Đại sứ
quán Việt Nam ở Pháp (từ 1955
đến 1958), đỗ bằng Luật sư năm
1959 (hành nghề Luật sư tại Tòa
Thượng thẩm Paris từ 1960 tới 1967),
LMN đỗ bằng Cao Học Công Pháp năm 1959,
Cao Học Khoa Học Chính Trị năm 1960, Cao Học
Tư Pháp năm 1962. Trình Luận án Tiến
sĩ Quốc Gia Khoa Học Chính Trị (Thèse de
Doctorat d’Etat ès Sciences Politiques) ngày 08/02/1962, Ưu
Hạng, với tất cả lời khen
ngợi của Ban giám khảo Đại học
Luật khoa Paris và (được Giải
thưởng Luận án – Prix de Thèse của
Đại học Paris
Panthéon-Sorbonne ngày 25/06/1963. Từ niên học
1962-1963 cho tới niên học 1966-1967, với tư
cách Giáo sư Tiến sĩ Quốc Gia, LMN
đã giảng dạy luật Hiến pháp (và
trở thành chuyên môn lỗi lạc) đi song
với Khoa học Chính trị (cùng Tài
chánh, Hành chánh) liên tục tại Đại
học Paris-Assas, Besançon, Paris-Saint Denis và Paris-Sorbonne
Nouvelle.
Lê Mộng Nguyên làm thơ
nhạc và viết văn từ thuở
nhỏ. Trúng tuyển Giải thưởng
Hoàng Đế Bảo Đại (Prix S.M. Bảo
Đại) trong cuộc thi Văn Chương Học
Sinh Trường Trung Học, được
đăng báo lúc mới còn 15 tuổi (Phan
Đình Phùng( biên khảo), Việt Nam Tân
Báo 1945) và có thẻ nhà báo năm 18
tuổi. Đã cộng tác ở quốc
nội với Phật Giáo Văn Tập (của
Hòa Thượng Minh Châu), Tập Văn Học
Sinh (kỷ niệm niên khóa 1948-1949 trường
Trung Học Khải Định), Quốc Gia (nhạc
phẩm Xuân Tươi viết năm 15 tuổi,
được đăng dưới biệt
hiệu Lan Đào), Việt Nam Tân Báo (dưới
thời chính phủ Trần Trọng Kim) và
hải ngoại, từ ngày đi du học Pháp
: Việt Nam (của Tòa Đại sứ
Việt Nam tại Paris), Kinh Tài Pháp (của
Nguyễn văn Bông), Đường Mới
của (GS Bùi Xuân Bào), Cách Mạng (thơ đăng
thường xuyên với biệt hiệu “Yên
Hà”), Quê Mẹ (của Võ Văn Ái), Tiếng
Sông Hương-Dallas (của sử gia Nguyễn
Cúc), Tiếng Sông Hương-Virginia, Việt
Điểu-Giai Phẩm Mùa Thu 97 và 98 (của
Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại),
Cụm Hoa Tình Yêu IV-1998, CHTY V-1999, CHTY VI-2000, CHTY
VII-2001, CHTY VIII-2002, CHTY IX-2003 (HTTTVN Hải Ngoại,
Sacramento), Flowers of Love 2000 (Vietnamese International Poetry
Society, Sacramento), Flowers of Love 2002, Flowers of Love 2004 (Tam
Ngữ), Chúng ta (của Bùi Xuân Quang và
Lê Thị Bạch Nhựt), Le Médecin du Vietnam (của
BS Trần Quang Lộc), Tiếng Gọi Dân Tộc (của
Võ Long Triều), Tin Tức (của Nguyễn
Đình Nhân), Á Châu (Đỗ Thành, Hồng Kim
Thảo), Y Học Thường Thức (của
BS Nguyễn Xuân Quang , Orange County), Ngày Mới
của (Lê Trân-Diễm Thy , Antony, Pháp), Đối
Lực & Khai Thác Thị Trường (của
TS Nguyễn Bá Long, Toronto, một cách
thường xuyên), Diễn Đàn Việt Nam (của
ký giả Phạm Văn Kiểm, một cách
thường xuyên), Định Hướng (của
GS Nguyễn Đăng Trúc & LM Lê Phú Hải),
Biển Đông (của nữ sĩ Dư Thị
Diễm Buồn, Chicago), Dòng Việt (của
Võ Long Tê & Lê Văn, Huntington Beach), Human Rights/ Droits
de l’Homme (của TS Lâm Lễ Trinh, Huntington Beach, California),
Nhân Quyền DROITS DE L’ HOMME của (LM Trần Thanh
Giản, Paris, một cách thường xuyên), Hồn
Quê, Multimedia Magazine (của ký giả Vương
Huyền), Viễn Tượng Việt Nam của (LS
Trần Thanh Hiệp và GS Vũ Thiện Hân, Paris),
Nguyệt San Nghệ Thuật – Montréal (của
Nhạc sĩ Lê Dinh) một cách rất
thường xuyên từ tháng 12-1988 trong mục
phê bình văn nghệ và truyện, biên khảo,
hồi ký, tùy bút, thơ và nhạc vân vân.
Lê Mộng Nguyên đã cộng tác với
“Nhóm Khởi Hưng” trong Việt Sử
Khảo Luận, Tập 16, của Luật sư
Hoàng Cơ Thụy (2001).
Đã sáng tác
hơn một trăm nhạc phẩm, như Trăng
Mờ Bên Suối (viết ngày 13.11.49), Vó
Ngựa Giang Hồ (08.11.48), Đàn Chim Xuân (07/12/1948),
Kỷ Niệm Chiều (22.05.1950), Mừng
Khánh Đản (1948), Thành Đạo, Một
Chiều Thương Nhớ (29.11.49), Hoàng Hoa
Thôn (22.01.50), Nhớ Huế (28.02.50), Bài
Thơ Huế (1950) , Về Chơi Thôn Vỹ (25.04.50),
Xa Vời Bóng Chim (26.02.50), Mỵ Châu
Trọng Thủy (06.05.1950, có lời bằng
tiếng Pháp, 2001), Xuân Tha Hương, Cô Gái
Huế (16.09.50), Dạ Lan Hương (1949), Ngàn
Dặm Quan San (07.08.49), Đôi Mắt Nhung, Mơ
Đà Lạt (21.03.50), Từ Giả
Đế Đô (08.05.1950), Ly Hương (1950)...Bụi
Đời (06.09.57, nhạc phim), Lá Thư Cho
Mẹ (1951), Xuân Tha Hương (20.03.51), Sông Seine,
Bao Giờ Ta Về Nước Nam? (tự
bài “Bên Giòng Sông Seine” 26.04.51), Chiều Vàng Bên
Chợ Đông Ba (1988), Kiếp Giang Hồ
(1992), Xuân Về Nhớ Mãi Quê Hương
(1981), Quê Tôi (1991), Việt Nam Thắm Tươi
(2000)...và trong những năm 2001-2004 : Tìm
Lại Ngày Xưa, Mưa Trên Phố Huế, Ngày
Em Đi, Thề Non Nước (Thơ Tản Đà),
Giao Mùa (Thơ Phạm Ngọc), Thu Trên Sông Seine
(Thơ Vương Thu Thủy), Tình Vô Vọng (Thơ
Bích Thuận), Thu Sầu (Thơ Lưu Hồng
Phúc), Chiều Vàng Năm Xưa...phần
lớn do Hương Mộc Lan, Tinh Hoa (nhạc và
Sách Hồng : “Lá Thư Cứu Mệnh”, là
cuốn truyện đầu tiên được
xuất bản, 1949), và Ái Hoa, Á Châu, An
Phú...xuất bản và tái bản nhiều
lần, Thu Hồ là nhạc sĩ danh ca đã ngay
từ năm 1949 đặc biệt trình
bày trên đài phát thanh Pháp Á (Radio
France-Asie) hầu tất cả sáng tác đầu
lòng của Lê Mộng Nguyên và từ đó
đến lượt Mạnh Phát, Thanh Phong, Jo
Marcel, Phượng Bằng, Phạm
Đăng...cùng các nữ danh ca như
Hoàng Oanh, Hà Thanh, Thanh Thúy, Khánh Ly, Thái
Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan, Kim Tước, Hương
Thủy, Hương Lan, Kim Thu, Ánh Tuyết, Lê Dung,
Huyền Châu, Thanh Trúc, Bảo Yến, Tuyết Dung, Thu
Hà...Linh Phương & Jazzy Thảo Hương...(độc
tấu dương cầm)...đã trình bày trên
đài phát thanh, trên mạng lưới
hoặc truyền hình hoặc thu vào băng
nhạc hay CD, DVD (hoặc Vidéo) cho phổ biến
ở nước nhà và hải ngoại.
Trong thư riêng trả lời cho nhạc sĩ
Trịnh Hưng đề ngày (02.03.1998), tác
giả Lê Mộng Nguyên đã giải bày tâm
sự như sau : Bài TRĂNG MỜ BÊN SUỐI viết
ngày 13 tháng11 năm 1949 (tôi còn giữ
bản thảo), một buổi chiều không mưa
ở nhà một mình tôi ở Huế (đường
Gia Long), với cây lục huyền cầm Y Pha Nho,
vừa nhạc vừa lời song song
với nhau, rất mau lẹ từ (20 đến 30
phút là xong), trong một cuốn vở có
phân ly (papier millimétré) đầy ký chú
những bài học Lý Hóa ở
trường Khải Định. Ai là nhạc
thần trong sự sáng tác bài nhạc này
đã làm cho ngay tác giả lúc nghe lại
chiều ấy cũng rụng rời con tim? Tôi
vừa viết xong thì anh Lê Mộng Hoàng
lúc ấy mới đi chơi về, hát
thử nghe với giọng ténor légér
của anh rất xúc cảm, tôi quyết định
gởi cho Thu Hồ là một danh ca của
Đài Phát thanh Pháp Á (Radio France Asie)
hồi ấy ở Sài Gòn. Hai ba ngày sau,
TMBS được Thu Hồ trình bày lần
đầu tiên trên làn sóng điện Việt Nam,
và anh đoán biết thành tích của TMBS
từ ngày ấy đến bây giờ. Hồi
ấy chiến tranh bắt đầu giữa
Quốc Gia (dưới thời Chính phủ
độc lập của cựu hoàng Bảo
Đại, Quốc trưởng kiêm Thủ
tướng Chính phủ thành lập ngày
01.07.1949, với Nguyễn Văn Xuân, Phó Thủ
tướng và Tổng trưởng Quốc
phòng) và Cộng quân của
Võ Nguyên Giáp (chính phủ Hồ Chí
Minh). Không hiểu sao tôi có linh tính sẽ chia tay
một cách vĩnh viễn với cuộc tình
rất tha thiết nhưng trong sạch thuở ban
đầu? Linh tính một sự đau khổ
trong tương lai vì phải rời quê cha
đất tổ qua năm sau cùng với óc
tưởng tượng dồi dào của
một người thi nhạc sĩ đã làm
cho tôi biến hóa những cuộc gặp nhau
bên bờ sông Hương (sau Đài Kỷ Niệm
Chiến Sĩ Trận Vong) và trên đường
Nam Giao (nơi trú ngụ của cô gái Huế
người hoàng tộc mới tuổi dậy
thì), những buổi chiều vàng mặt
trời sắp xuống, thành một
gặp gỡ cuối cùng bên bờ suối
dưới ánh trăng mờ, mà ngay hoa
lá cũng động lòng nức nở
khóc nỗi chia ly (Ngày xưa còn đó
trăng nước mong chờ).
Ngoài luận án Tiến
Sĩ Quốc Gia với chủ đề Classes
sociales et mouvements politiques au Vietnam de 1919 à 1939 (Giai
Cấp Xã Hội và Phong Trào Chính Trị
ở Việt Nam từ 1919 đến 1939),
được Giải Thưởng Luận Án
Đại Học Paris năm 1963, Lê Mộng Nguyên
đã cho in và phổ thông (với tư
cách Giáo sư Luật sư Tiến sĩ Quốc
Gia chuyên môn luật Hiến pháp và Chính trị
học), khoảng 20 tác phẩm lược
luận và nghiên cứu, tỷ dụ : La
Constitution de la Ve République, de Charles de Gaulle à François
Mitterrand [Hiến Pháp Đệ Ngũ Cộng
Hòa, từ Charles de Gaulle đến François Mitterrand]
(xb lần thứ tư, năm 1989, Ed. STH), Les systèmes
politiques démocratiques contemporains [Những Chính
Thể Dân Chủ Hiện Đại] (xb lần thứ
tư, năm 1994, Ed. STH), Initiation
au droit [Khai Tâm
Luật Pháp] (1996, Ed. L’Hermès),La
Constitution de 1958 [Hiến Pháp 1958] (1996, Ed. L’Hermès),
Le budget de l’Etat [Ngân Sách Quốc Gia] (1997, Ed.
L’Hermès), Finances publiques [Tài Chánh Công
Hữu] (1997, Ed. L’Hermès) và trong nhiều
sách tập hợp như : La loi nouvelle (résumé,
analyse et commentaire), 1998 (L’Hermès) , Les
agglomérations urbaines dans les Pays du Tiers Monde (Ed. De
l’Institut de sociologie, Bruxelles 1971), Le Viêt-Nam au présent (1992,
Đường Mới), Đảng Cộng
Sản Trước Thực Trạng Việt Nam (1994,
Đường Mới) và những Vấn
Đề Cấp Thiết của Việt Nam (Tiếng
Gọi Dân Tộc xuất bản, 1995), vân vân.
Đã viết hơn 130
bài xã thuyết về Hiến pháp và Dân
chủ cho nhiều tạp chí Âu châu lừng danh :
như Revue du Droit Public, Civilisations, Approches-Asie hoặc
Echos de l’Edition Juridique, Légis-France, Lois et décrets, Mondes
et Cultures (tập san của Hàn Lâm Viện Khoa
Học Hải Ngoại Pháp), Nhân Quyền, DROITS DE L’
HOMME (Paris), vân vân và trên
báo song ngữ Pháp Anh ở Hoa Kỳ Human
Rights (Huntington Beach, California), Việt Pháp ở
Paris như Quê Mẹ, Tin Tức, hoặc L’
Appel de la Nation hay Le Médecin du Vietnam và
Gia-Nã-Đại như Đối Lực và
Khai Thác Thị Trường (đã nói
trên)... Sẽ xuất bản một thi tập Đời
Không Có Em (đầu đề tạm thời),
một sách biên khảo Nhà Văn Hải
Ngoại Tập I (Phê Bình Văn Nghệ) và
bằng Pháp ngữ (Tùy bút) : La Guerre
Civile Vietnamienne, Chroniques politiques 1993-2004, (Việt Nam
Nội Chiến, Chính Trị Ký Sự 1993-2004),
Contes Asiatiques, une philosophie de la vie (Truyện
Ngắn Á Đông, một triết lý của
cuộc đời) và Poèmes d’Amour du Vietnam
(Tình Thơ Song Ngữ Pháp Việt) vân vân.
Được bầu làm
Viện Sĩ Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải
Ngoại của Pháp từ ngày 05.12.1997, thay
thế Cựu Hoàng Bảo Đại (Membre de
l’Académie des Sciences d’Outre-Mer depuis le 5 décembre 1997 ; en
remplacement de S.M. Bảo Đại), với kết
quả : 81 phiếu thuận trên 90 người bầu (90
phần trăm). Đại diện cho Việt Nam hiện
giờ trong bác học viện này chỉ
có nhà văn TS Thái Văn Kiểm
được chọn lựa năm 1990,
với tư cách hội viên liên hợp-membre
associé, TS Hà Vĩnh Phương được
bầu ngày 03.12.1999 với tư cách hội
viên thông tin-membre correspondant và nhạc sĩ ,
Giáo sư Tiến sĩ Lê Mộng Nguyên (Hội viên
thực sự, với quyền bỏ phiếu
bầu hội viên mới cùng ứng cử
bất cứ chức vụ nào trong Viện Hàn Lâm.) Thi nhạc sĩ
và luật gia LMN cũng là hội viên của Hội
Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại (Vietnamese
International Poetry Society tại Sacramento, U.S.A.), SACEM (
Société des Auteurs Compositeurs et Editeurs de Musique :
Hội những người Nhạc Sĩ và
Xuất Bản Âm Nhạc)
và Hội Những Nhà Văn Pháp
Ngữ (ADELF : Association des Ecrivains de Langue Française)
tại Paris, Hội Chuyên Gia Lập Hiến Pháp
Quốc (AFC : Association Française des Constitutionnalistes),
Hội Những Nhà Văn Chiến Đấu AEC
: Association des Ecrivains
Combattants, vân vân...Được Thủ
Tướng Chính phủ Pháp ban
thưởng Huy Chương Văn Hóa với
trật Sĩ Quan (Officier dans l’Ordre des Palmes Académiques) từ năm 1984 và vinh
danh trong VẺ VANG DÂN VIỆT (The Pride of The Vietnamese),
Tuyển Tập IV- 1998, California.
TRĂNG
MỜ BÊN SUỐI
Người hẹn cùng ta đến bên bờ
suối.
Rừng chiều mờ sương ánh trăng mờ
chiếu.
Một đêm thiết tha rồi đây xa cách.
Đường chia hai ngả biết tới
phương nào.
Mịt mùng ngàn thâu suối mơ trầm lắng.
Ḷng buồn từ ly nhớ nhung chiều vắng.
Người ơi nhớ khúc nhạc ḷng đêm
ấy.
Ngàn đời vang nhắc bên suối trăng tà.
Suối mơ. Lời hẹn ước ven bờ
suối xưa.
Nhớ chăng ? Người phương xa trong khói
điêu tàn.
Suối ơi ! Vờn theo bóng trăng vàng ngày xanh.
Nào những lúc trên thuyền say sưa nh́n trăng
vừa lên.
Ai hay chia ĺa, sương gió biên thùy. Hiu hắt
người đi sa trường xa.
Một ngày xa nhau xóa bao h́nh bóng.
Trời bày chia ly chi cho ḷng héo.
Giờ đây cách xa người quên hay nhớ ?
Ngày xưa c̣n đó trăng nước mong
chờ.
Thân
tặng Minh Hồ-Minh Hồ Đào:
Trăng
Mờ Bên Suối của Lê Mộng Nguyên do Thu
Hà-Paris ca
Thân mến,
LÊ MỘNG NGUYÊN
Paris, ngày
31.01.2005
Lê Mộng
Nguyên
Dim Moon on the
Mountain Spring
Written when the author was 19, in the midst of
an uncertain era of Vietnamese history, the song Dim Moon on the Mountain
Spring quickly captured the imagination of an entire post-war generation
who was living through the premonition of a total struggle for independence. In
the face of impending hostility, the educated urban youth was torn between the
yearning for freedom and the longing for peace. The semblance of normalcy in
political and economic life during those volatile years could only sharpen a
sense of angst among a population that was growing increasingly restive in the
aftermath of World War II. Some finally opted for the open struggle and
vanished from their urban world while others stayed put with the quiet
ambivalent resentment against the status quo.
It is at this momentous juncture that Le Mong
Nguyen jumped on the escapist bandwagon of the romantic movement that was still
lingering after decades of reign as the premier mode of expression among the
urban literati. This creative impulse that animated so many poets of the Vietnamese
struggle era permeated the cultural scene in the cities and towns while the
rural communities were being rocked by the restlessness of rising expectations.
The song quickly won a place in the listeners'
hearts belying the deep yearning for a peace that was under threat, and for a
chance to live the love of man and nature that was still elusive. All the radio
stations in
19
February 2005
|
Trăng Mờ Bên Suối Nhạc và Lời của Lê
Mộng Nguyên Người hẹn
cùng ta đến bên bờ suối Mịt mùng ngàn thâu
suối mơ trầm lắng Suối mơ !
Lời hẹn ước ven bờ suối xưa Ai hay chia ĺa Một ngày xa nhau xóa
bao h́nh bóng Làm tại Huế,
chiều ngày 13 tháng 11 năm 1949 |
Dim
Moon on the Mountain Spring That night my love and I met by the mountain spring In countless nights by the silent dreamy waters O stream! Where is our old vow by your water's edge? Who has gone off One day away from you faded my memory. Translated by Thomas D. Le |

Thi
Phẩm Tình Chàng Ý Thiếp
|