Quê hương và tình yêu qua
thơ lục bát
của
Quê
hương và tình yêu xưa nay vẫn là
những đề tài lớn cho mọi giai
tầng và lứa tuổi trong xã hội. Riêng
đối với thi nhân
Việt Nam, đây là nguồn thơ vô tận.
Người ta làm thơ có lẽ vì
nhiều nguyên nhân và động cơ khác nhau;
có người làm thơ vì xúc cảnh
sinh tình muốn mượn thơ để
góp phần tô điểm thêm cho đời
sống; người khác làm thơ như
một nhu cầu. Với thành phần nầy,
họ làm thơ như để đáp lại
một tiếng gọi thiêng liêng nào đó tuy
rất mơ hồ nhưng rất thôi thúc và
có sức cuốn hút mãnh liệt. Có
người xem thơ như một cứu
cánh, một người bạn chân tình không bao
giờ phản bội. Thơ đối với
họ như một chiếc phao giữa biển
đời mịt mùng sóng vỗ, như
một bàn tay để vịn mà ngoi lên như
Vườn thơ
Việt Nam hải ngoại vừa có thêm một
đóa-hoa-thơ-hương-sắc mà
người trổ ra nó là
“Người đi cạn chén quan hà
Giọt
buồn đọng lại nhạt nhòa lệ dâng
Lưu vong
đã mấy mùa Xuân
Nhìn hoa
tuyết rụng lâng lâng gợn sầu” (Kiếp
Lưu Vong, tr. 3)
Tình quê hương
lai láng rạt rào lúc nào cũng
sẵn sàng làm thi nhân rơi lệ :
“Hợp tan, tan hợp trong đời
Ta đi
để giọt sầu rơi trên đèo” (Trên
đỉnh đèo Hải Vân, tr.8)
Vận nước
điêu linh với chế độ vô cùng
khắc nghiệt đã làm biết bao
người phải nát ruột tan lòng bỏ
nước ra đi. Nhưng cho dù đã
đến được bến bờ tự
do, mộng đã thành, thân đã yên, lòng
kẻ ra đi vẫn hoài vọng về
người ở lại :
“ Mộng xưa nay đã thành hình
Thương muôn dân vẫn điêu linh quê
nhà” (Lên non, tr.12)
Những thiệt
thòi mất mát của tuổi trẻ trong chiến
tranh cũng được thi nhân đề cập
đến
“ Ngày xanh tắt hẳn nụ
cười
Tuổi xanh quằn quại tơi bời phong ba” (Dạ Sầu, tr.14)
Trong chiến tranh
đã thế, sau chiến tranh càng thê thảm
hơn. Chỉ trong hai câu sáu tám ngắn
ngủi sau đây anh đã nói lên
được cảnh não lòng của quê
hương sau năm bảy mươi lăm:
“Chỉ còn những cuộc chia ly
Người đi cải tạo,
người đi nghìn trùng” (Về Thành, tr.18)
Để rồi trên
bước đường lưu vong, thi nhân
sống với những tháng ngày ray
rứt trong nỗi nhớ thương lúc
nào cũng như gai nhọn đâm sâu trên từng
tế bào:
“Nhớ thương gặm nát hồn
thơ
Dòng
thời gian vẫn hững hờ trôi qua” (Về Nguồn, tr.42)
Hình ảnh quê
hương xứ Quảng với dòng sông Thu
một thời thơ mộng và bóng núi
xanh lam được anh ghi lại:
“Tôi yêu sông nước Thu Bồn
Yêu đồng lúa chín xóm thôn
gặt về”
....
“Tôi yêu rặng núi xa mờ
Trường sơn hùng vĩ
trơ trơ cuối trời” (Yêu quê, tr.98)
Rồi khói
lửa chiến tranh tràn tới và dòng
sông Thu một thời thơ mộng trở nên:
“Đây sông Thu nhuộm máu đào
Còn đâu những chuyến
đò ngang
Chèo đưa dưới ánh
trăng vàng lung linh” (Điêu
Linh,tr.68)
Thi nhân không chỉ yêu
hình ảnh của nơi anh đã sinh ra mà
cả những vùng đất miền Nam khác.
Tình yêu ấy đã thể hiện qua những
câu:
“Miền Nam rợp bóng dừa xanh
Sông ngòi uốn khúc chảy quanh
xóm làng” (Đất
đẹp miền Nam, tr.72)
Rời quê
hương ra đi lòng tan nát bao nhiêu thì khi
quay về thăm lại lòng thi nhân càng bồi
hồi xao xuyến bấy nhiêu:
“Bảy năm lưu lạc xứ
người
Việt Nam ơi! Vạn dặm đường
Xa người ta vẫn tơ
vương suốt đời” (Ngày
về, tr.78)
Có lẽ không có
những câu thơ nào diễn tả nỗi
lòng khách ly hương một cách cô
động và cảm xúc như bốn câu trên.
Tâm hồn thi nhân như
cây sáo trúc mà ngọn gió và hơi
thở tình yêu đã luồn vào để
rung lên những tấu khúc ca ngợi tình
yêu nồng nàn réo rắt :
“Tình yêu đã đặt lên ngôi
Làm sao nói hết những
lời yêu đương”
Và những thơ nây nóng bỏng của
một cuộc tình :
“Em tôi tỏ vẻ ngượng ngùng
Vòng tay siết chặt trong
vùng đam mê”(Tàn
Tích, tr.44)
hay những nhớ thương da diết và
tiếc nuối, trăn trở :
“Thương em nặng mối tình sâu
Không duyên chẳng nợ ba sinh
Em nên khâm liệm cuộc tình đôi ta”(Tình Ta, tr.21)
Còn gì đơn
sơ và chân phương hơn hai câu sau, trong
đó thi nhân đã dùng những chữ
rất bình dị:
“Em ơi, lệ đã cạn dòng
Đời anh sao mãi long đong
thế nầy
Trời buồn nên trời
nhiều mây
Tình anh đã trót cho em hết
rồi !”(Lời cho em, tr.63)
Những từ
như “sao mãi”, “thế nầy”, “nên”, “trót”,
“hết rồi”, là những từ rất thông
thường, được dùng đến
nhiều trong văn nói. Dù vậy, chúng
đã không làm cho những câu thơ trên mất
chất thơ mà trái lại càng làm
tăng thêm vẽ mộc mạc, chân tình. Tác
giả đã khéo léo dùng toàn thanh
bằng trong câu “Trời buồn nên trời
nhiều mây”. Câu thơ tuy không theo quy luật căn bản
của thơ lục bát nhưng tạo
được một sắc thái
đặc biệt, như để làm cho nỗi
buồn đã thâm trầm lại càng trì
nặng hơn.
Những cuộc
tình tan vỡ đã cho thi nhân có cơ
hội viết nên những câu lục bát phảng
phất âm điệu ca dao :
“Cuộc tình trót đã dở dang
Thì thôi đổ vỡ mộng
vàng đắp xây”(Sầu
Đông, tr.84)
“Bọt trùng dương vẫn chưa tan
Tình ta sao vội chóng tàn
vì ai”(Tình hoang, tr.91)
“Nhớ thương thốt chẳng nên
lời
Trong cô đơn thấy biển khơi
bốn bề” (Tưởng
Vọng, tr.101)
Về mặt kỹ
thuật, thơ lục bát của
“Mẹ cha tóc đã bạc màu
Ta thân tàn phế ăn mày nhân gian”(Dạ Sầu, tr.14) hay
“Ta theo dấu cọp về nguồn
Làm thân dã thú chở
buồn theo sau
Từ đây miên viễn lưu đày
Sơn lâm vắng vẻ đêm ngày
đi hoang”(
“Chân bước đi dạ
vấn vương” (Giã Từ, tr.28) hầu
hết những bài thơ lục bát của anh
đều đúng luật bằng trắc
và gieo vần rất chỉnh. Những bài
mà vần thật hoàn chỉnh có thể
kể ra như (“Giã Từ”, tr.28), “Mừng Vu
Qui của con”(tr.124), “Đêm về sáng trên thác
Niagara Falls” (tr.131). Những bài còn lại
vần luật rất nghiêm túc cho dù đôi khi
nhà thơ bị buộc phải dùng thông vận.
Nói về chính vận thì ngay cả
những tác phẩm để đời
của những thi hào lừng danh cũng không
tránh được có lúc lâm vào
thế bi. Đọc “Đoạn Trường Tân Thanh”
của đại thi hào
“Mấy lần cửa đóng then gài
Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu”
Hay
“Tan sương đã thấy bóng người
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ”
...
“Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm”
Và
“Rằng nay trong tiết Thanh Minh
Mà sao hương khói vắng tanh thế
nầy” thì giữ
được vần như
Ngoại trừ
những thiên tài “Xuất khẩu thành thi” hay
những ai không biết thơ là gì, không
một thi nhân đời thường nào
có thể phủ nhận quá trình sáng
tạo cam go khổ hạnh của một bài thơ
hay. Thi nhân, như người mẹ, đã
phải thai nghén những đứa con tinh
thần của mình, truyền sức sống
và tinh hoa cho chúng, cưu mang chúng cho đến
ngày nở nhụy khai hoa. Thế đã yên
đâu khi thơ “lọt lòng” lại phải
sửa chữa, uốn nắn cho chúng
được hoàn hảo. Đôi khi gặp
những đứa con khó khăn, người cưu mang
chúng không nhiều thì ít cũng sức
cùng lực kiệt. Trong ý nghĩ đó,
thi tập “ Kiếp Lưu Vong” có thể
được xem như là đứa con
đầu lòng mà
Vũ Đình Trường
