



Lời:
Minh Hồ & Minh Hồ Đào
Nhạc
LMST
NGƯỜI
TRỞ VỀ NGUỒN
(Kinh dâng hương hồn
nhà thơ
THANH TÂM TUYỀN)
Hoa thơ rụng cõi vĩnh hằng
Trần gian thương tiếc mãi THANH TÂM TUYỀN
Một đời vắt khối óc, tim
Trào ra nét bút thơ tìm nguồn vui
Chứa chan pha lẫn ngậm ngùi
Vấn vương nắng ấm không nguôi quê
nhà
Tình thương, hạnh phúc thiết tha
Sầu bay mang lại đậm đà tươi
xinh
Thanh Tâm Tuyền đã trọn tình
Thế nhân, lưu mãi đến nghìn năm
sau
Hương thơ lan tỏa một bầu
Trời xanh, giăng khắp nỗi đau
tiễn người
Nguyện cầu không dứt gởi lời
Phân ưu tang quyến đang rơi giọt buồn
Thanh Tâm Tuyền trở về nguồn
Từ đây người đã thả
buông nợ trần
Minh Hồ & Minh Hồ Đào
Ngày 24 tháng 03 năm 2006
Montpellier, Pháp quốc
***
TIỄN
BIỆT
(Kinh dâng hương hồn
nhà thơ
THANH TÂM TUYỀN)
Ngày mai quanh chiếc áo quan
Người đưa tiễn biệt lệ
tràn tiếc thương
Nhà thơ ngủ giấc miên trường
Vĩnh hằng xa cách con đường
trần ai
Thanh Tâm Tuyền chẳng lạc loài
Vần thơ tuyệt tác làm say lòng
người
Tôn vinh, ái mộ không vơi
Nhớ nhung người giã từ
đời dấu yêu
Ngày mai trời đất hắt hiu
Buồn giăng khắp nẻo tiêu điều xuân
sang
Bướm ong ngơ ngẩn chẳng màng
Vờn hoa, hút nhụy, nắng vàng
úa phai
Trải trên chiếc áo quan tài
Bọc thân cát bụi trả vay nợ trần
Thanh Tâm Tuyền đã mãn phần
Trở về lại cõi phù vân ngàn
trùng
Minh Hồ & Minh Hồ Đào
Ngày 24 tháng 03 năm 2006
Montpellier, Pháp quốc
***
(Kinh dâng
hương hồn nhà thơ
THANH TÂM
TUYỀN)
Anh ra đi, ra đi mãi mãi
Không bao giờ trở lại trần gian
Ngày hôm nay trên cõi thiên đàng
Chào đón rước một chàng thi
sĩ
Thanh Tâm Tuyền, mang theo hành lý
Một linh hồn tri kỷ văn thơ
Anh đến một nơi chẳng
đợi chờ
Là vĩnh biệt bến bờ sinh sống
Anh ra đi biết bao chấn động
Trong lòng người thấy trống
vắng sao
Nhớ thương kết thành chuỗi nghẹn
ngào
Giây phút cuối lệ trào vô tận
Những bước chân ra về quyện
quấn
Mắt u buồn ngơ ngẩn chưa tan
Tưởng anh còn hiện hữu thênh thang
Trên con đường muôn ngàn thân thiết
Kể từ nay anh không còn biết
Những cơn đau hành hạ tâm can
Anh xuôi tay nhắm mắt nhẹ nhàng
Và để lại kho tàng văn hóa
Minh Hồ & Minh Hồ Đào
Ngày 25 tháng 03 năm 2006
Montpellier, Pháp quốc
***
Nhà Thơ
Thanh Tâm Tuyền Ra Đi
Ôm em trong tay
mà đă nhớ em ngày sắp tới...
Tác giả những ḍng thơ t́nh trên vừa mới từ
biệt trần gian hôm Thứ Tư: nhà thơ Thanh Tâm
Tuyền đă chết vào lúc 11:30 giờ sáng, giờ
California, ngày 22-3-2006 tại tiểu bang Minnesota, v́ bệnh
ung thư phổi.
Thanh Tâm Tuyền là một trong những người cầm
viết đă để nhiều dấu ấn trong ḍng sinh
hoạt văn học Miền Nam VN trứơc năm 1975
và sau này là hải ngoại. Tuy là một trong những
người đầu tiên mở đường cho phong
trào Thơ Tự Do, nhưng tính ông ưa sống khiêm
tốn, lặng lẽ.
Thanh Tâm Tuyền có tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày
13-3-1936 (theo thông tin trên trang web Luân Hoán). Theo lời nhà
văn
Ông sinh tại Vinh, Nghệ An, từ Bắc di cư vào Nam
năm 1954, cựu sĩ quan VNCH, những năm cuối
đời định cư tại Minnesota,
Khoảng năm 1957, Thanh Tâm Tuyền chủ trương
tạp chí Sáng Tạo cùng với
Năm 1960, làm Sáng tạo bộ mới, có thêm Cung Trầm
Tưởng, Thạch Chương,
Năm 1962, Thanh Tâm Tuyền nhập ngũ, học ở
Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức,
rồi về dạy Đại Học Chính Trị Đà
Lạt và phụ trách Nguyệt San Quốc Pḥng.
Các tác phẩm đă xuất bản :
Tôi Không C̣n Cô Độc (thơ,1955)
Liên, Đêm, Mặt Trời T́m Thấy (thơ,1964)
Khuôn Mặt (truyện ,1964)
Bếp Lửa (truyện, 1966)
Dọc Đường ( truyện, 1966)
Ba Chị Em (truyện, 1967)
Cát Lầy (truyện,1967)
Mù Khơi (truyện, 1970)
Tiếng Động (truyện,1970)
Tạp Ghi (1970) -- tập này gồm nhiều bài trên báo gom
lại, lúc đầu kư bút hiệu 3T.
Thơ Ở Đâu Xa (thơ,
Theo lời nhà văn
Sau khi ở tù ra, Thanh Tâm Tuyền đi B́nh Giă, Phước
Tuy để làm ruộng. Có lúc viết văn gửi ra, kư
tên Trần Kha.
Trả lời phỏng vấn của VB, nhà văn
Nhà phê b́nh Bùi Vĩnh Phúc, trong bài viết từ năm 1986 có
nhan đề “Thanh Tâm Tuyền, Người Thi Sĩ
Ấy” và đăng trên Talawas.org ngày 12-9-2005 đă nhận
định:
“Như con sư tử và như đứa trẻ
thơ (đúng, Thanh Tâm Tuyền cũng có đôi khi như
thế) của Nietzsche, Thanh Tâm Tuyền đi vào
đời sống với tất cả những say
đắm, yêu thương, thơ dại và phẫn nộ
chất chứa trong hồn ông.
...Hăy chỉ nhớ là, bây giờ, Thanh Tâm Tuyền vẫn
đang ở tại quê nhà, vẫn c̣n canh giữ cho ta
những giấc mộng cũ, và những bài thơ
của ông, lang thang ở những xó góc tối tăm nào đó
của đời sống, của trí óc ta, lâu lâu vẫn c̣n
khua gơ những bước chân âm thầm trở về. Và
ta lại nh́n ra những bóng mưa của thời gian
xưa cũ, những ḍng sông vẫn chảy lặng
lẽ, mưa vẫn rơi, mưa rơi nhỏ nhẹ,
mưa rơi ngoài châu thành. Trái tim ta ướt đẫm
nước mắt...”
Thanh Tâm Tuyền ra đi là một mất mát lớn cho
văn học Việt Nam. Không chỉ là một nhà thơ,
một nhà văn phi thường, ông c̣n là một nhân cách
lớn lao tuy lúc nào cũng ẩn dật.
CHUYỂN BÀI trên Web
NHỮNG
LỜI
THẠCH TRÂN
Vào khoảng 11 giờ
rưỡi sáng, giờ Miền Đông
Thanh Tâm Tuyền tên thật là
Dzư Văn Tâm, sinh năm 1936 ở Thanh Hóa và
trưởng thành ở Hà Nội, di cư vào Sài gon năm
1955. Ngay từ những ngày đầu ở Miền Nam ông
đă tham dự vào sinh hoạt báo chí của sinh viên di
cư: cùng với một số bạn bè như Trần
Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Doăn Quốc Sĩ ...ông
là cây viết chủ lực của tờ Lửa
Việt, tiếng nói của sinh viên Sài gon. Khi Lửa
Việt phải đ́nh bản v́ thiếu tài chính, Thanh
Tâm Tuyền đi dạy ở các trường trung học
tư ở Ban Mê Thuộc và Sàig̣n. Thực ra tên tuổi
Thanh Tâm Tuyền chỉ được nhiều
người biết tới khi ông cùng nhà văn
Người ta thường
gọi Thanh Tâm Tuyền là thi sĩ có lẽ v́ ông là tác
giả hai tập thơ Tôi Không C̣n Cô Độc và
Liên Đêm Mặt Trời T́m Thấy, người
đă đưa Thơ tự do lên đỉnh cao văn chương
Việt Nam. Thực ra Thanh Tâm Tuyền là một tài năng
đa diện: ngoài thơ, ông c̣n cho xuất bản
truyện vừa, truyện dài, truyện ngắn, kịch,
và tạp ghi. Ngoài ra Thanh Tâm Tuyền cũng có những bài
viết về văn học có tính cách tranh luận
đăng trên các tạp chí Sáng Tạo, Thế Kỷ 20,
Văn...trước năm 1975. Về văn xuôi, có lẽ Bếp
Lửa là tác phẩm được nhiều
người yêu thích nhất.
Thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền trong những ngày
đầu xuất hiện vào năm 1955 là một thách
đố cho cả người đọc thơ lẫn
người làm thơ. Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ. Thanh Tâm
Tuyền. Đất nước có một lần. Tôi gh́
đau đớn trong thân thể. Những ḍng sông những
đường cầy núi nhọn. Những biêt ly rạn
nứt ḷng đường. Anh sợ những cột
đèn đổ xuống. Em là lá biếc là mây cao là
tiếng hát. Sớm mai khua thức nhiều nhớ
thương. Mai tôi đi tôi đi vào sương đen.
Sương rất độc, tẩm vào người
nỗi chết.
Trong thời gian lao cải và sau
khi được thả về, Thanh Tâm Tuyền sáng tác “thơ
trong đầu” và những bài thơ đó
đến với người đọc không do ông cho in
nhưng do những người yêu mến thơ ông
xuất bản thành tập Thơ Ở Đâu Xa.
Phần lớn những bài thơ này rất cơi riêng,
viết cho vợ con, bạn bè thân thiết nhưng cái ngôn
từ “đất trích” trong giai đoạn này đọc
lên tuy thấy xót xa nhưng không một dấu vết oán
hận. V́ thi sĩ tội đồ mắt ngước
nh́n trời xanh ‘gánh
cỏ trên vai thơ trong đầu.’. Duỗi soải chân
tay gối trên nứa. Ngó trời nhá nhem nghe mưa mau.
Tưởng chừng thi thể ai thối rữa. Hồn
viển vông chẳng chút oán sầu. Đứng vững
không khuỵu chân. Trên mảnh đất nghèo khổ. Vang
vang trời vào xuân. Ta bật kêu mừng rỡ. Sáng nay
thức giấc trong trại giam. Anh nhớ những câu
thơ viết thời trẻ. Bừng cháy trong ḷng anh
bấy lâu u ám quạnh quẽ. Ánh lửa mênh mang buổi
t́nh đầu.
Thanh Tâm Tuyền ra đi vào ngày
đầu xuân bỏ những người yêu mến ông
ở lại. Trong thơ Thanh Tâm Tuyền, Mùa Xuân luôn
được nhắc tới. Thanh Tâm Tuyền là thi sĩ
mở Hội Xuân cho thi ca Việt Nam hiện đại. Đi băng đi Xa xăm
về gần. Biền biệt qua mảnh đất
vỡ tung. Đi vào đám đông, ngủ cô đơn trên
giường bệnh. Hay sẽ măi măi nằm ngoài
nghĩa địa. Vẫn chẳng có ǵ khác lạ. Tuy thi sĩ không thấy có ǵ khác lạ
đối với chính ông nhưng đối với chúng
ta, cái khác lạ đó chính là sự vắng mặt của
thi sĩ giữa chúng ta.
Thơ Thanh Tâm Tuyền là
chữ nghĩa bị đập nát và tái tạo. Và khi
được tái tạo, chữ nghĩa ấy tinh khôi. Chữ
nghĩa Thanh Tâm Tuyền ở với (with us) chúng ta, và
ở trong (in us) chúng ta. Măi măi.
THẠCH
TRÂN
3/24/2006
*Những
chữ in nghiêng là Thơ Thanh Tâm Tuyền
© 2006 gio-o
THANH
TÂM TUYỀN (1936 – 2006)
Bùi
Bảo Trúc
Hai niên
biểu nằm giữa hai cái ngoặc đơn, ở
giữa là cái gạch nối đi theo sau một cái tên
người là để báo một tin buồn. Những con
số của sự khởi đầu của đời
sống và sự chấm dứt với cái chết, của
sự ra đi vĩnh viễn. Từ hôm nay, tên của Thanh
Tâm Tuyền sẽ măi măi có những con số đó đi
theo. Những hàng chữ và số sẽ được
khắc trên mộ bia của người thi sĩ.
Thanh Tâm
Tuyền vừa qua đời tại
Thanh Tâm
Tuyền tên thật là Dzư Văn Tâm. Ông sinh tại Vinh
ngày 15 tháng 3 năm 1936 và qua đời ngày 22 tháng 3 năm
2006, cũng tháng 3 và năm tận cùng cũng bằng
số 6, sống băng ngang qua được hai thế
kỷ, hưởng thọ 70 tuổi.
Thanh Tâm
Tuyền bị hiểu lầm suốt đời và không
được đối xử xứng đáng trong khi ông
c̣n sống. Nguyễn Ngọc Bích trong cuốn A Thousand
Years Of Vietnamese Poetry không chọn một bài thơ nào
của Thanh Tâm Tuyền để dịch và giới
thiệu. Vơ Phiến trong Văn Học Miền Nam /
Thơ chỉ cho Thanh Tâm Tuyền 1/3 trang và chọn của
ông một bài thơ (trang 3077, 3078) trong khi ngay cạnh
đó, Tô Thùy Yên được dành cho hơn ba chục
trang, mặc dù trong cuốn Văn Học Miền Nam
Tổng Quan, Vơ Phiến nhắc Thanh Tâm Tuyền 21
lần.
Con
đường ông đi, không đúng như tên tập
thơ của ông, tập Tôi Không C̣n Cô
Độc xuất bản năm 1955,
đă có nhiều người đi theo bằng những bài
thơ không vần, loại thơ ông đi những
bước đầu tiên khai phá, nhưng ông vẫn là
người một ḿnh cho đến lúc chết.
Thanh Tâm
Tuyền là một trong số các cây bút sáng lập tờ Sáng
Tạo của
Thanh Tâm
Tuyền đi những bước đầu cho thơ
tự do Việt
Thanh Tâm
Tuyền không chỉ từ bỏ những mô thức
cũ, những cái khung cũ của thơ Việt Nam
trước ông, mà ông c̣n chọn cho ông một thứ ngôn
ngữ và những h́nh ảnh mới vào đúng lúc nền
văn học Việt Nam cần những thứ máu
mới, khác và lạ.
Thanh Tâm
Tuyền biết có nhiều người không ưa ông,
như ông đă viết trong mấy trang đầu của
tập Tôi Không C̣n Cô Độc.
Người
ta độc ác với thơ của ông. Người ta thù
ghét thơ của ông như ông đă nhận trong tập
thơ vừa kể.
Thơ của
Thanh Tâm Tuyền là thứ thơ trí tuệ, giản dị
mà phức tạp, rất đẹp mà không một nỗ
lực làm dáng...
Anh sợ những cột
đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hy vọng
Nên anh d́u em đi xa
Đi đi, chúng ta đến công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối
Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau...
...Ôm em trong tay mà đă nhớ em ngày sắp tới...
Người
ta phàn nàn thơ Thanh Tâm Tuyền khó hiểu. Có và không.
Tại sao
phải hiểu đúng như người làm thơ đă
viết xuống? Hiểu như thế, là bài thơ đă
chết. Không c̣n đời sống nữa. Từ khi nó
được viết xong và mực khô trên giấy.
Những bài
thơ khác tiếp tục xuất hiện mỗi lúc
mỗi khác, tùy theo cách nh́n ngắm của mỗi
người. Nhà thơ đẩy đứa con ra
đời, và để cho nó bước đi, sống
tiếp đời sống chưa hoàn thành của nó.
Những bài haiku là những tảng mực ném vào giấy,
người đọc cầm lấy bút vẽ tiếp,
nối liền những đứt đoạn của bức
tranh. Haiku tiếp tục sống những đời
sống khác của chúng sau khi Basho, Buson, Etsujin, Issa đă
buông bút.
Đọc
thơ Thanh Tâm Tuyền phải đọc như thế.
Nguyễn Hưng Quốc khi viết về Thanh Tâm
Tuyền, cho rằng người đọc phải
động năo khôi phục lại mối quan hệ kín
đáo giữa các câu thơ (và cả những chữ trong
bài thơ) bằng nhưng liên từ và giới từ mà
Thanh Tâm Tuyền cố t́nh bỏ đi.
Thơ tự
do của Thanh Tâm Tuyền có âm nhạc, nhưng không có
vần. Cũng có thể nói là có vần nhưng vần
bị dấu đi:
...Em gối đầu
sương xuống
Chuyện tṛ bằng bóng ḿnh
Tôi đẹp như h́nh tôi
Như cuộc đời, như mọi người...
Trong Liên,
Đêm, Mặt Trời T́m Thấy (1964), Thanh Tâm
Tuyền khẳng định ông không ngợi ca t́nh yêu, ông
nguyền rủa t́nh yêu... cái mà ông mơ ước và
tưởng là cùng với tự do là những hy vọng
cuối đời của ông. Nhưng trong thơ ông, chính
t́nh yêu là đối tượng ca ngợi của ông. Ông
không nói về t́nh yêu, nhưng người ta thấy ông
rất yêu nó:
Chiều trên phi
trường anh bỗng nhớ em
Nhớ chuyến đi xa đầy hẹn ước
Đây mùa xuân không đến
Đám cỏ hèn mọc trên diện tích xi măng khô...
Cũng như
kỹ thuật sáng tác ông dùng, ông dấu đi t́nh yêu,
bắt người đọc phải tự đi mà
kiếm thấy:
Anh trở thành giấc
mộng
Đường cỏ hoang em trở về
Đáy huyệt sâu hồn tóc cũ
Không ai biết chúng ta yêu nhau
Cuộc biệt ly nơi hư không
Con mắt nào ngó thấy
Mỗi lời như ngọn lửa
Đốt những kỷ niệm tội lỗi...
Bùi Vĩnh Phúc
cho là hai tập thơ Tôi Không C̣n Cô Độc và Liên
Đêm Mặt Trời T́m Thấy đă bầy
ra cho độc giả thấy một Thanh Tâm Tuyền kiêu
căng, ngạo mạn, lạnh lùng, cô độc, lăng
mạn, thiết tha, mệt mỏi.
Có phải v́
thời đại của ông sống:
Ta vừa hai mươi
tuổi
nhân loại cũng hai mươi
ôi nhân loại hai mươi
thóc gặt dư ăn
bột xay thừa nặn bánh
ta kêu lên hờn căm
khi quá thể chúng cắt t́nh ruột thịt
hời mẹ hiền nh́n mẹ rưng rưng
yêu chẳng được yêu, khóc không dám khóc
Hôm nay ta xông ra phố ngày hai mươi
nắm tay tṛn cáu giận
má phừng lửa yêu thương
môi bỏng niềm tủi cực
đêm qua ai thét giữa đêm dài
tỉnh dậy ôi nao nức
ấy là tiếng hét trong hồn ta...
Và ở
một chỗ khác, vừa nói về t́nh yêu xong, ông lại
quay ra với giọng nghiệt ngă:
... Điệu nhạc
gầy níu nhau tuyệt vọng
Sao tuổi trẻ quá buồn
Như con mắt giận dữ
Sao tuổi trẻ quá buồn
Như bàn ghế không bầy...
mà ông đă
chọn cho thi ca của ông thứ ngôn ngữ và h́nh ảnh
nhiều khi hung bạo như vậy?
Nhưng nói ǵ
đi nữa, th́ Thanh Tâm Tuyền vẫn là một thi sĩ
lăng mạn khi nh́n qua khỏi những điều mà ông
cố t́nh làm cho tầm thường đi:
Vứt mẩu thuốc
cuối cùng xuống ḍng sông
Mà ḷng ḿnh phơi trên kè đá
Con thuyền xuôi
Chiều không xanh, không tím không hồng
Những ống khói tầu mệt lả...
Có thể trong
một thời điểm khác yên b́nh hơn, Thanh Tâm
Tuyền đă làm thơ khác những bài thơ chúng ta
biết của ông.
Từ khi sang
Mỹ, ông không làm thơ nữa. Ông làm đúng như
một câu ông nói năm 1975: tôi là người làm thơ
Việt
Ông ở
lại, trải qua nhiều năm tù, bị bắt giam
nhiều lần. Khi không c̣n ở được với cái
xứ sở ấy, ông không viết nữa.
Sự từ
bỏ thơ của ông rất là thi sĩ, cũng hệt
như khi ông đến với thơ lần đầu...
...Xin trao thi sĩ ṿng hoa
tặng
Chúng ta đă thắng giữa cuộc đời...
Bùi
Bảo Trúc
(Thư
Gửi Bạn Ta)
Trich tu website gio-o
