|
Núi cao
trăng sáng đào xinh Đôi chim
liền cánh hữu tình biết bao Ghép
thành chữ Minh Hồ Đào Minh Hồ – Hân
hạnh đón chào bốn phương Tác giả góp
mặt trên trang nhà Minh Hồ & Minh Hồ
Đào :
|
NĂM TƯ NÓI CHUYỆN CHUỘT HOÀNG
GIANG Theo lịch Tầu và lịch
ta, mỗi năm mang tên một con vật. Năm nay là
năm con chuột, tức năm Tư. Nói cho đầy
đủ theo tiếng Hán Việt là năm Mậu Tư. Tại sao phải có chữ
Mậu đi trước chữ Tư? Chúng ta đă bị Trung Hoa
đô hộ một ngàn năm, sau đó, trong thời
tự chủ, giới trí thức Việt Nam cũng là
đệ tử của Khổng Mạnh, vua quan cũng
tổ chức guồng máy quốc gia theo kiểu Trung Hoa,
nên văn hóa của nước láng giềng phương
Bắc đă ảnh hưởng rất nặng vào
nếp sống của người Việt Nam, dù chúng ta
vẫn có nhiều điều khác và vẫn giữ
được đặc tính của dân tộc Việt.
Trong cách tính toán sự vận hành của thời gian, chúng
ta cũng dựa theo cách của người Trung Hoa. Tính
theo trời th́ có Thiên Can, tức là
mười nhánh của Trời, gồm có: Giáp, Ất, Bính, Đinh,
Mậu, Kỷ, Tân, Nhâm, Canh, Qúy. Tính theo đất th́
có Thập
Nhị Địa Chi, tức Tư, Sửu, Dần, Măo, Th́n, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Mỗi chi dùng một con vật làm tượng trưng.
Riêng năm Măo, người Việt Nam dùng con mèo,
người Trung Hoa lại gọi đó là năm con
thỏ. Để gọi tên mỗi năm, người
ta phải lấy một Can ghép trước một Chi.
Thí dụ: ĐINH Hợi, Mậu Tư. Dân thường th́
coi lối ghép này khó hiểu, nặng tính mê tín. Mấy
vị thâm Nho th́ lại ca ngơi lối đặt tên có
cả trời cả đất như vậy là biết
hướng thượng, biết ḥa ḿnh cùng trời
đất, biết sống theo thuyết Tam Tài: thiên,
địa, nhân. Thiên sinh, địa dưỡng, nhân ḥa.
Người chính là đức của trời đất (Nhân giả kỳ thiên
địa chi đức). V́ vậy, khi đặt tên
năm th́ phải dùng cả Can của trời lẫn Chi
của đất để hài ḥa với con người
ở giữa. Người ta thường tin
là ai sinh năm nào th́ chịu ảnh hưởng của
con vật mang tên năm đó. Thí dụ ai sinh năm
Sửu th́ vất vả v́ là tuổi trâu, ai sinh năm heo
th́ nhàn, ai sinh năm cọp th́ dữ, ai sinh năm
rồng th́ số tốt v́ là số vua v.v... Riêng năm
con chuột, người ta tin đẻ con trai rất
tốt v́ thấy có nhiều người đàn ông làm
lớn sinh trong năm Tư. Thí dụ cụ thể nhất
là cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sinh vào
giờ Tư, ngày Tư, tháng Tư, năm Tư. Có điều thắc
mắc là có nhiều trẻ trai khác cũng
được sinh ra cùng ngày giờ năm tháng Tư, tại
sao chỉ có ḿnh Ông Thiệu làm tổng thống? Lúc đó
mấy thầy lại tán rằng Tư nhưng phải là Tư
nào, Mậu Tư hay Giáp Tư? Dù cùng can cùng chi nhưng khác nhau
chỗ sinh, khác phong thủy, hay có người thân trong nhà
khắc tuổi th́ vận mệnh hẳn khác nhau. Ngay
tuổi trâu, sinh ban ngày mới vất vả v́ phải
đi cầy, c̣n sinh ban đêm th́ nhàn, v́ chỉ việc
nằm nhai rơm, cỏ. Cái ǵ các thầy cũng giải
thích được, chẳng biết lối nào mà
lần. Các thầy c̣n tán rằng
chuột cũng có hai thứ: chuột nhắt và chuột
đồng. Chuột nhắt là loại chuột bé tí teo,
sống trong nhà, nhất là trong xó bếp để dễ
kiếm cơm thừa, canh cặn, lục niêu, lục
nồi. Các thầy nói thứ chuột này đă thành
người thân trong gia đ́nh, rất trung thành, có
đuổi cũng chỉ chạy, không chịu bỏ
đi. V́ vậy chúng ta nên phát tâm từ bi hỷ xả mà
nuôi chuột, nên dành chút lương thực cho chúng
mỗi ngày, đừng nhẫn tâm đặt bẫy hay
cho “những người thân” này sơi bả chuột. Ác
nhân lắm! Hạnh Thánh Martin de Pores, người da
đen, gốc châu Mỹ La Tinh, kể rằng thánh nhân là
một thầy tu được giao nhiệm vụ coi
bếp cho nhà ḍng. Các chú chuột thấy thầy hiền
lành, mỗi tối kéo tới cả sư đoàn
để được thầy cho ăn, nhẩy múa và
ca hát chít chít với chúng. Khi cha bề trên khám phá ra, ngài ra
lệnh cho thầy Martin phải di tản lập tức
đoàn chuột ra khỏi nhà ḍng trong thời gian ngắn
nhất. Thầy chờ đến nửa đêm, họp
đại hội đồng chuột, báo cáo t́nh h́nh
khẩn trương, ra lệnh di tản và khuyên anh em
không được phá phách một tí ǵ trên
đường rút lui khỏi nhà ḍng. Thế là sau giờ
Tư canh ba, thầy Martin đi trước dẫn
đầu, sư đoàn chuột hàng ngũ chỉnh
tề theo sau, vừa hát vừa nhẩy múa, vui vẻ kéo
nhau ra cánh đồng, trước sự chứng
kiến đầy kinh ngạc của cha bề trên và các
tu sĩ khác. Loại chuột thứ hai là
chuột đồng, ăn lúa và sống ngoài trời nên
to con. Các thầy tán rằng chuột đồng
tượng trưng cho kẻ tung hoành dọc ngang, không
chịu ru rú trong xó bếp, nhưng muốn sống
tự do giữa nơi trời cao đất rộng.
Đến mùa lúa, chuột đồng béo u béo nần.
Hồi c̣n ở Việt Nam, có lần tôi đi máy bay
từ Cần Thơ về Sài G̣n. Ngồi cạnh tôi,
một bạn đồng nghiệp vác theo một bao
bố có vẻ khá nặng. Tôi hỏi anh bao bố đựng
ǵ. Anh cười trả lời: “Chuột lột. Muốn ăn, tôi tặng anh
một chục con”. Tôi vội vàng từ chối. Tôi
tuổi mèo nhưng rất ngán chuột, nói chi việc
ăn thịt chuột. Ông bạn tôi cho biết chuột
mùa này đang mập, nông dân bắt về lột da,
mổ bụng, rửa sạch và bán cho khách nghiền thịt
chuột từng bao bố. Ông tả cách làm chuột
bẩy món, nào chuột khià nước dừa, chuột
rô-ti, chuột xào lăn, chuột ướp xả
nướng than ... đi với vài chai la de lạnh là
hết xảy. Chuột sinh sôi nẩy nở rất nhanh,
bắt không xuể. V́ vậy ông Trời mới sinh ra
rắn để sơi bớt chuột cho mùa màng của
nhà nông đỡ thất bát. Hiện nay ở Việt Nam,
các “thượng đế” nhậu nhẹt khoái món
đặc sản rắn. Người ta săn rắn
ráo riết khiến chuột được thảnh
thơi ăn lúa và sản xuất hậu duệ. Nông dân
kêu Trời nhưng Trời ở cao không nghe. Ngoài hai loại chuột
nhắt và chuột đồng, không thấy các thầy
Hán Nho nói ǵ đến hai thứ chuột khác là chuột chù
và chuột cống. Người có ḷng thương yêu thú
vật cũng ngán hai thứ chuột này. Chuột chù th́
hôi. Dân ta muốn chê ai ở dơ th́ nói: “Hôi như chuột
chù”. Chuột cống th́ rất mất vệ sinh v́
sống ở dưới cống và ăn đồ
phế thải do cống tháo ra. Đây là thứ chuột
thành phố, rất dễ truyền bệnh, đặc
biệt là bệnh dịch hạch. Có lẽ chuột chù
và chuột cống không có “đức tính” nào đáng ca
tụng, nên các thầy đánh bài lờ. Các thầy học rộng tài
cao th́ lờ. Nhưng người b́nh dân Việt Nam th́
lại kể cho nhau nghe một truyện cổ tích nói
về lai lịch của chuột cống. Truyện
chuột cống đă được Nguyễn
Đổng Chi ghi lại trong cuốn “Kho Tàng Truyện
Cổ Tích Việt Nam”, tóm tắt như sau: Ngày xưa,
tại Nghệ An, có một chàng trai thi đỗ
hương cống. Dân làng trịnh trọng gọi là ông
Hương Cống. Vua trọng tài, gọi ông đi làm
quan ở nơi xa. Vợ không thể đi theo v́ phải
ở lại lo quán xuyến việc nhà. Trong nhà có một
con chuột đực già trên trăm tuổi đă thành
tinh. Lợi dụng lúc ông Hương Cống vắng nhà,
chuột yêu tinh biến h́nh thành Hương Cống
giả, thỉnh thoảng đến ăn ngủ
với vợ Hương Cống thật, nói dối là
được phép về thăm nhà. Sau nhiều lần
du dương mí nhau, hai người có một bé gái. Khi ông
Hương Cống thật trở về nhà, vợ ông và
làng xóm đều kinh ngạc v́ thấy có hai ông
Hương Cống giống nhau như đúc. Thật
giả không cách chi phân biệt. Nội vụ phải tŕnh
lên quan trên xét xử. Sau khi lấy lời khai của các
đương sự và nhân chứng, quan ṭa ghi nhận từ ngày ông Hương
Cống đi làm quan xa, con chuột già của gia đ́nh
cũng biến mất. Từ sự kiện này, quan cho
rằng trong hai ông Hương Cống, phải có một
ông do chuột yêu tinh biến dạng mà thành.. Quan cho
mời đến công đường một phù thủy
cao tay. Thầy phù thủy vừa bắt quyết “linh
miêu” vừa đọc thần chú “bổ thử”. Chỉ
trong giây lát, ông Hương Cống giả và bé gái con
của ông biến thành chuột và chết ngay tại sân
ṭa. Từ đó người ta gọi những con
chuột bự và già là chuột cống. Bài học luân lư
của truyện này là là kẻ thân tín trong nhà cũng có
thể trở thành kẻ phản bội, kẻ
được thi ân quay lại làm hại người gia
ân. Nhưng mọi việc trên đời đều có
nhân có qủa. Những kẻ ác và phản bội có
thể thành công lúc đầu, nhưng chẳng chóng th́
chầy, họ sẽ bị lột mặt nạ và
sẽ bị trừng phạt xứng đáng.
Người Việt Nam tin rằng “Trời có mắt”, và “Không
có Trời ai ở với ai?” Văn chương b́nh dân
Việt Nam cũng có một bài nói về t́nh thân thiện
giữa mèo và chuột:
Con mèo mà trèo cây cau Hỏi thăm chú chuột
đi đâu vắng nhà Chú chuột đi chợ
đường xa Mua mắm mua muối giỗ
cha chú mèo Ai cũng biết mèo và
chuột là hai kẻ tử thù. Lúc nào mèo cũng ŕnh
để “sơi tái” chuột. Lúc nào chuột cũng
chạy trốn nhưng luôn t́m cách “chọc quê” mèo.
Người b́nh dân Việt Nam đặt bài ca dao này
để nói dỡn chơi về một điều
nghịch lư, hay muốn đưa ra một bài học nhân
ái, xóa bỏ hận thù, sống chung ḥa b́nh? Ông cha chúng ta
nói năng mộc mạc, không triết lư cao vời, không
mượn chữ thánh hiền để “loè” thiên
hạ, nhưng t́nh ư nhiều khi rất sâu xa, không
phải chỉ để hát chơi hoặc ru em, mà c̣n
để suy gẫm và dậy con dậy cháu. Có một con chuột khác
nổi tiếng khắp thế giới từ trên nửa
thế kỷ nay. Đó là chú chuột Mickey. Chú
được nhà làm phim hoạt họa Walt Disney khai sinh.
Chú biết nói, biết vui, biết buồn, biết yêu,
biết làm đủ thứ tṛ... trên màn ảnh. Trẻ
em yêu chú hết biết. Nhiều người lớn
cũng khoái chú luôn. Chià khóa thành công của chú là yêu
đời, yêu người, lúc nào cũng vui vẻ,
nghịch ngợm nhưng không làm hại ai, có tinh thần
pḥ nguy cứu khốn, trừ gian, diệt bạo. Chú là
gương mẫu cho con người. Nếu ai cũng
sống như chú th́ bốn phương đă
được hưởng thái b́nh từ lâu, không có
tư bản bóc lột và không có vô sản chuyên chính. Thế mới biết con
người nhân ái chỉ có trong ước mộng.
Thực tế, Chúa, Phật, các thánh nhân, các nhà hiền
triết đă mỏi miệng kêu gào và cả ép ḿnh sống
làm gương mà nhân loại vẫn bịt tai, ngoảnh
mặt, đối xử với nhau nhiều khi không
bằng loài thú. Nghĩ thế, chúng ta mới thấy các
nhà làm lịch đặt tên năm bằng tên những con
vật là sâu sắc vô cùng. Nếu lấy tên các “vĩ
nhân” như Tần Thủy Hoàng, Staline, Hitler, Bác Mao, Bác
Hồ... mà đặt tên cho năm th́ chắc chắn
những tên tuổi đó sẽ bị nhân gian lầu
bầu là chỉ đem lại vận xui, không bằng
thứ đồ chuột, đồ heo, đồ chó... Tết Con Chuột 2008 |
****
|
Làm Thầy, Làm Tṛ Trong lớp
học giờ Đạo Đức, thầy giáo giảng bài
về công ơn thầy, cô. Thầy
hỏi cả lớp: “Các em cho thầy biết một
câu ca dao về người Thầy.” Lớp im lặng. Thầy mớm ư : “Câu này có hai chữ “Mày” và
“Nên.” Các em cố lên nào.” Lớp im lặng. Thầy lại mớm ư : “Câu này có cả hai
chữ “Không” và “Đố.” Ráng lên mấy em.” Lớp vẫn tiếp tục im lặng. Thầy giáo điên tiết : “Câu này có sáu
chữ, có cả hai chữ “Thầy” và “Làm.” Đây là câu ǵ ?” Cuối lớp, một cánh tay rụt rè
đưa lên : “Thưa thầy câu đó là “Làm
Thầy Mầy Không Nên Đố.” Thầy giáo : “ ?!.. ?!” **** |